Monday, March 20, 2017

LEGEND

1. Để lập ra một công ty vĩ đại cần một ý tưởng vĩ đại.
2. Các công ty hàng đầu đòi hỏi có những người lãnh đạo vĩ đại, xuất chúng, có sức lôi cuốn.
3. Các công ty thành công nhất tồn tại trước tiên và trên hết vì muc tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
4. Các công ty hàng đầu có chung một số gía trị cốt lõi.
5. Mọi thứ luôn thay đổi.
6. Các công ty hàng đầu thường thực dụng, tính toán chắc ăn.
7. Các công ty hàng đầu là nơi lý tưởng đề làm việc đối với tất cả mọi người.
8. Các công ty thành công lớn có những bước đi tốt nhất thông qua việc lập ra những kế hoạch mang tính chiến lược, phức tạp và xuất sắc.
9. Các công ty cần thuê các CEO từ bên ngoài để thúc đẩy những thay đổi cơ bản.
10. Những công ty thành công nhất chủ yếu tập trung vào việc đánh bại các đối thủ cạnh tranh.
11. Bạn không thể vừa ăn bánh vừa giữ lại được bánh.
12. Các công ty trở thành công ty hàng đầu chủ yếu thông qua việc ra những tuyên ngôn về tầm nhìn và hoài bão của công ty.


HUYỀN THOẠI TAN VỠ!

Saturday, March 18, 2017

THỜI HẠN GÓP VỐN VÀ CÁCH XỬ LÝ NẾU KHÔNG GÓP ĐỦ, ĐÚNG HẠN

MỤC LỤC
NỘI DUNG
  1. ĐỐI VỚI CÔNG TY TNHH 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN
    1. 1.1 Điều 48. Thực hiện góp vốn thành lập công ty và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp
  2. ĐỐI VỚI CÔNG TY TNHH 1 THÀNH VIÊN
    1. 2.1 Điều 74. Thực hiện góp vốn thành lập công ty
  3. ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN
    1. 3.1 Điều 112. Thanh toán cổ phần đã đăng ký mua khi đăng ký doanh nghiệp
  4. ĐỐI VỚI CÔNG TY HỢP DANH
    1. 4.1 Điều 173. Thực hiện góp vốn và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp

ĐỐI VỚI CÔNG TY TNHH 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN

Điều 48. Thực hiện góp vốn thành lập công ty và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp

1. Vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên khi đăng ký doanh nghiệp là tổng giá trị phần vốn góp các thành viên cam kết góp vào công ty.
2. Thành viên phải góp vốn phần vốn góp cho công ty đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Thành viên công ty chỉ được góp vốn phần vốn góp cho công ty bằng các tài sản khác với loại tài sản đã cam kết nếu được sự tán thành của đa số thành viên còn lại. Trong thời hạn này, thành viên có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp.
3. Sau thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà vẫn có thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì được xử lý như sau:
a) Thành viên chưa góp vốn theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty;
b) Thành viên chưa góp vốn đủ phần vốn góp như đã cam kết có các quyền tương ứng với phần vốn góp đã góp;
c) Phần vốn góp chưa góp của các thành viên được chào bán theo quyết định của Hội đồng thành viên.
4. Trường hợp có thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết, công ty phải đăng ký điều chỉnh, vốn điều lệ, tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên bằng số vốn đã góp trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày cuối cùng phải góp vốn đủ phần vốn góp theo khoản 2 Điều này. Các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên.
5. Tại thời điểm góp đủ phần vốn góp, công ty phải cấp giấy chứng nhận phần vốn góp cho thành viên tương ứng với giá trị phần vốn đã góp. Giấy chứng nhận phần vốn góp có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của công ty;
b) Vốn điều lệ của công ty;
c) Họ, tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác đối với thành viên là cá nhân; tên, số quyết định thành lập hoặc mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính đối với thành viên là tổ chức;
d) Phần vốn góp, giá trị vốn góp của thành viên;
đ) Số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp;
e) Họ, tên, chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty.
6. Trường hợp giấy chứng nhận phần vốn góp bị mất, bị hủy hoại, bị hư hỏng hoặc bị tiêu hủy dưới hình thức khác, thành viên được công ty cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều lệ công ty.

ĐỐI VỚI CÔNG TY TNHH 1 THÀNH VIÊN

Điều 74. Thực hiện góp vốn thành lập công ty

1. Vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp là tổng giá trị tài sản do chủ sở hữu cam kết góp và ghi trong Điều lệ công ty.
2. Chủ sở hữu phải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
3. Trường hợp không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này, chủ sở hữu công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị số vốn thực góp trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ vốn điều lệ. Trường hợp này, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước khi công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ.
4. Chủ sở hữu chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty, thiệt hại xảy ra do không góp, không góp đủ, không góp đúng hạn vốn điều lệ.

ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN

Điều 112. Thanh toán cổ phần đã đăng ký mua khi đăng ký doanh nghiệp

1. Các cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định một thời hạn khác ngắn hơn. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm giám sát, đôn đốc thanh toán đủ và đúng hạn các cổ phần các cổ đông đã đăng ký mua.
2. Trong thời hạn từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đến ngày cuối cùng phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua quy định tại khoản 1 Điều này, số phiếu biểu quyết của các cổ đông được tính theo số cổ phần phổ thông đã được đăng ký mua, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác.
3. Nếu sau thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này có cổ đông chưa thanh toán hoặc chỉ thanh toán được một phần số cổ phần đã đăng ký mua, thì thực hiện theo quy định sau đây:
a) Cổ đông chưa thanh toán số cổ phần đã đăng ký mua sẽ đương nhiên không còn là cổ đông của công ty và không được chuyển nhượng quyền mua cổ phần đó cho người khác;
b) Cổ đông chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng ký mua sẽ có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán; không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán cho người khác;
c) Số cổ phần chưa thanh toán được coi là cổ phần chưa bán và Hội đồng quản trị được quyền bán;
d) Công ty phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị mệnh giá số cổ phần đã được thanh toán đủ và thay đổi cổ đông sáng lập trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua theo quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này. Thành viên Hội đồng quản trị, người đại diện theo pháp luật phải chịu trách nhiệm liên đới về các thiệt hại phát sinh do không thực hiện hoặc không thực hiện đúng quy định tại khoản 1 và điểm d khoản 3 Điều này.

ĐỐI VỚI CÔNG TY HỢP DANH

Điều 173. Thực hiện góp vốn và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp

1. Thành viên hợp danh và thành viên góp vốn phải góp đủ và đúng hạn số vốn như đã cam kết.
2. Thành viên hợp danh không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết gây thiệt hại cho công ty phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho công ty.
3. Trường hợp có thành viên góp vốn không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp đủ được coi là khoản nợ của thành viên đó đối với công ty; trong trường hợp này, thành viên góp vốn có liên quan có thể bị khai trừ khỏi công ty theo quyết định của Hội đồng thành viên.
4. Tại thời điểm góp đủ vốn như đã cam kết, thành viên được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp. Giấy chứng nhận phần vốn góp phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của công ty;
b) Vốn điều lệ của công ty;
c) Tên, địa chỉ thường trú, quốc tịch, số Thẻ căn cước công dân, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của thành viên; loại thành viên;
d) Giá trị phần vốn góp và loại tài sản góp vốn của thành viên;
đ) Số và ngày cấp giấy chứng nhận phần vốn góp;
e) Quyền và nghĩa vụ của người sở hữu giấy chứng nhận phần vốn góp;
g) Họ, tên, chữ ký của người sở hữu giấy chứng nhận phần vốn góp và của các thành viên hợp danh của công ty.
5. Trường hợp giấy chứng nhận phần vốn góp bị mất, bị hủy hoại, bị hư hỏng hoặc bị tiêu hủy dưới hình thức khác, thành viên được công ty cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp.

theo http://www.docluat.vn/

Wednesday, March 15, 2017

Những đợt tăng lãi suất của Fed ảnh hưởng thế nào đến thị trường toàn cầu?

Giờ đây, gần như chắc chắn rằng tuần tới Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ nâng lãi suất lần thứ 3, và đó sẽ là bước đầu tiên trên con đường hướng tới việc giành lại lãi suất từ 3% - 4%, MarketWatch đưa tin.

Đó là một quyết định dành cho nước Mỹ, nhưng lãi suất của Mỹ cũng là một biến số chủ chốt cho toàn bộ nền kinh tế toàn cầu.
Vậy thì lãi suất cao hơn của Fed sẽ ảnh hưởng thế nào đến phần còn lại của thế giới? Điều đó sẽ đánh dấu sự kết thúc của dòng tiền siêu rẻ, lạm phát sẽ bắt đầu tăng trở lại, tiết kiệm sẽ lại tăng cao, ngân sách Chính phủ sẽ chịu áp lực khổng lồ, và căng thẳng thương mại âm ỉ giữa Mỹ và châu Âu sẽ bùng nổ vì đồng Euro sẽ giảm giá.
Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) Janet Yellen
Các chuyên viên giao dịch giờ đây nhận thấy khả năng nâng lãi suất của Fed trong cuộc họp tuần tới là hơn 50%. Mọi chuyện vẫn chưa xong, nhưng rất gần như thế. Kinh tế Mỹ đang tăng trưởng với tốc độ đáng kể, thị trường chứng khoán đang có xu hướng tăng giá, và đã sống sót (ít nhất là cho đến nay) qua chiến thắng của một trong những vị Tổng thống kỳ lạ nhất lịch sử Mỹ. Khó mà thấy được tình huống “khẩn cấp” nào mà Fed sẽ phải đương đầu – vì thế lãi suất “khẩn cấp” nên dần kết thúc là điều khá hợp lý.
Nếu 0.25 điểm nữa không gây thiệt hại quá nhiều thì chúng ta có thể kỳ vọng được thấy một loạt đợt tăng lãi suất đều đặn, cho tới khi trở lại mức 3% - 4%. Vậy điều đó sẽ tác động đến phần còn lại của thế giới như thế nào?
Đây là 5 xu hướng lớn cần theo dõi:
Thứ nhất, điều đó sẽ đánh dấu sự kết thúc của kỷ nguyên tiền siêu rẻ
Lãi suất của Fed hiện vẫn là quan trọng nhất thế giới, là “cột mốc” cho lãi suất trên mọi tài sản tài chính khác. Nếu lãi suất trở lại bình thường thì giá mọi thứ cũng sẽ bắt đầu thay đổi. Thật vậy, các vấn đề duy nhất của Nhật Bản và khối các nước sử dụng đồng Euro (Eurozone) có thể sẽ khiến cho lãi suất vẫn duy trì ở mức thấp lâu hơn tại 2 khu vực này.
Tuy nhiên, ở các nơi khác, chắc chắn họ sẽ tăng lãi suất. Hãy mong đợi nước Anh sẽ làm theo, và có lẽ Thụy Sĩ, Thụy Điển, Na Uy, Canada và Australia cũng sẽ làm thế. Thậm chí quan trọng hơn là, giá nợ doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên.
Thứ hai, hãy chuẩn bị cho lạm phát
Đó không phải là những gì mà hầu hết mọi người mong đợi, nhưng lãi suất gần như zero đã sinh ra giảm phát, chứ không phải lạm phát.
Khi lãi suất tăng lên, lạm phát, vốn đã bị “nhốt” nhiều năm qua, sẽ bắt đầu xuất hiện trở lại. Trong ngắn hạn, điều đó có thể thật sự là tốt – nhưng nếu chỉ báo này cho thấy các dấu hiệu trở nên mất kiểm soát thì sẽ có những vấn đề thực sự.
Thứ ba, hãy kỳ vọng lãi suất tiết kiệm tăng
Ở mức 0.25%, nếu tiết kiệm thì được gì? Không nhiều lắm. Với lãi suất trở lại bình thường, và với tiền trong ngân hàng được hưởng một mức lợi nhuận thật sự hợp lý, thì người ta sẽ bắt đầu tiết kiệm trở lại, đặc biệt là ở các quốc gia phát triển.
Chẳng hạn, ở Anh, tỷ suất tiết kiệm đã giảm xuống 5.5%, thấp hơn nhiều so với lãi suất dài hạn 8.4%, và điều tương tự sẽ đúng với hầu hết các nền kinh tế phát triển khác. Tiết kiệm cao hơn sẽ là điều tuyệt vời cho lĩnh vực ngân hàng và tài chính, vốn bị “đói” tiền tươi trong thời gian qua. Nhưng sẽ là không tốt cho những phương tiện thay thế khác như cho vay ngang hàng, đã nở rộ trong thời gian lãi suất rất thấp.
Thứ tư, hãy mong đợi áp lực ngân sách khổng lồ lên các Chính phủ
Sau cuộc khủng hoảng, thâm hụt ngân sách đã trở nên mất kiểm soát, và tỷ lệ nợ tăng vọt. Tuy nhiên, điều đó không thành vấn đề nhiều vì chi phí dành cho món nợ ấy là rất thấp. Chẳng hạn ở Anh, tỷ lệ nợ/GDP đã tăng lên 81%, một trong những mức cao nhất của quốc gia này trong thời bình, nhưng tiền lãi hàng năm chỉ là 43 tỷ bảng Anh, tương đương với 3% tổng GDP, và 8% chi tiêu Chính phủ.
Với lãi suất bình thường, món nợ ấy sẽ là... kinh khủng – nước Anh có thể chứng kiến tỷ lệ nợ sẽ tăng lên 16% chi tiêu Chính phủ, hay thậm chí nhiều hơn, đến mức không thể kham nổi. Vậy giải pháp là gì? Hãy mong đợi Chính phủ xét đến những cách vỡ nợ thông minh, chẳng hạn như, bắt buộc các ngân hàng trung ương hủy món nợ mà họ đang nắm giữ, và nếu cần thiết, sẽ mua nhiều nợ hơn.
Cuối cùng, hãy mong đợi một cuộc chiến thương mại – giữa Mỹ và châu Âu
Đồng USD sẽ tăng giá mạnh là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt là so với đồng Euro. Đừng quên rằng, tại sao bất kỳ ai cũng muốn có lãi suất zero hoặc âm cho đồng tiền của họ ở châu Âu, đặc biệt là với những chính trị gia theo chủ nghĩa dân túy, những người luôn đe dọa chấm dứt sự tồn tại của đồng tiền này, khi họ có thể kiếm được 4% ở Mỹ?
Một đồng Euro yếu hơn nhiều, có thể là dưới mức “đồng giá” với đồng USD, sẽ khiến cho thặng dư thương mại của Liên minh châu Âu (EU) tăng vọt. Mức thặng dư khởi điểm này đã là khá lớn – theo dữ liệu của Eurostat, trong năm 2016, EU đã đạt được 115 tỷ Euro thặng dư với Mỹ. Vào cuối năm 2018, con số đó có thể vượt khỏi tầm kiểm soát. Tổng thống Donald Trump sẽ ghét điều đó, vì nó sẽ “cướp” đi hàng loạt công việc sản xuất cao cấp mà ông đã hứa bảo vệ. Và ông sẽ tìm cách để tấn công lại.
Lãi suất gần với mức zero là yếu tố quan trọng nhất trong nền kinh tế toàn cầu suốt 1 thập kỷ qua. Chúng đã thay đổi cách tài sản được định giá, tác động lên lãi suất tiết kiệm, cho phép các Chính phủ vay được những số tiền lớn mà chỉ hứng chịu ít hậu quả, và thay đổi các mô hình giao thương trên khắp thế giới.
Từ tuần tới trở đi, lãi suất sẽ bắt đầu được bình thường hóa. Đó sẽ là một hành trình dài trước khi chúng trở lại các mức đã từng đạt được – ít nhất là 2 hoặc 3 năm. Nhưng khi chúng đạt đến mức ấy thì nền kinh tế toàn cầu sẽ trông rất khác./.