Monday, April 19, 2021

NƯỚC KHOÁNG CÓ GAS: LỢI HAY HẠI?

Nước khoáng có gas là một loại đồ uống giải khát được ưa thích và có thể được lựa chọn để thay thế nước ngọt. Tuy nhiên, chúng có những lợi ích và tác hại như thế nào đến sức khỏe? Hãy cùng tìm hiểu.

Nước khoáng có gas là gì?

Nước khoáng có gas là loại nước được nén sục khí carbon dioxide dưới áp xuất cao. Điều này giúp tạo nên một thức uống sủi bọt, có màu sắc lấp lánh và chúng còn có tên gọi nước soda. Nước khoáng có gas cũng có thể thêm một chút muối để cải thiện hương vị, và đôi khi cũng có thể thêm các khoáng chất.

Một số loại nước khoáng thiên nhiên có gas, chúng thường có nguồn gốc từ các suối khoáng, nước ngầm tự nhiên và có thể chứa các khoáng chất và hợp chất chứa lưu huỳnh. Do vậy, chúng thường là các loại nước tốt cho sức khỏe.

Bên cạnh đó, một số loại nước "tăng lực", được bổ sung điện giải, có gas, có chứa một số  chất có vị đắng gọi là quinine, cùng với lượng đường nhất định glucose hoặc fructose.

Nước khoáng có ga có tính acid

Carbon dioxide và nước tạo nên một dạng acid là acid carbonic – một loại acid yếu được chứng minh là có khả năng kích thích các thụ thể thần kinh cảm nhận trong miệng giống như khi bạn ăn mù tạt. Điều này có thể gây nên cảm giác nóng, rát, khó chịu nhưng cũng có thể tạo ra sự thú vị trong một số trường hợp.

Nước khoáng có gas thường có chỉ số pH trong khoảng từ 3-4, tương đương với mức acid nhẹ. Tuy vậy, việc sử dụng nước khoáng có gas không có nghĩa là khiến cơ thể bạn bị acid hóa hơn. Lý do là thận và phổi có thể đào thải lượng carbon dioxide dư thừa, và chúng cũng giữ cho máu của bạn luôn luôn ở một mức pH trung tính từ 7,35-7,45 bất kể bạn có ăn uống như nào đi chăng nữa.

Ảnh hưởng đến răng miệng?

Một trong những mỗi quan tâm lớn nhất của việc uống nước khoáng có gas là ảnh hưởng của chúng đến răng miệng, bởi vì chúng có tính acid. Theo các chuyên gia, có rất ít nghiên cứu đề cập đến vấn đề này, tuy nhiên vẫn có những nghiên cứu tìm thấy khả năng nước khoáng có gas gây phá hủy men răng cao hơn so với nước thông thường. Cũng có những nghiên cứu chứng minh điều này, tuy nhiên đó là nước ngọt có gas.

Khi so sánh với nước ngọt có gas, nước khoáng có gas không có vị ngọt và dường như ít tác dụng gây hại đến sức khỏe răng miệng. Nghiên cứu cho thấy việc bổ sung thêm đường trong nước có gas làm tăng khả năng phá hủy men răng.

Nhìn chung, bản thân đường trong đồ uống đã là một loại nguy cơ gây các vấn đề ở răng miệng. Nếu so sánh với nước khoáng có gas, các loại nước ngọt dù không có gas cũng đã gây nhiều tác hại hơn cho răng miệng, chưa kể khi kết hợp cả 2 thành phần này.

Ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa?

Nước khoáng có gas thậm chí còn giúp ích cho hệ tiêu hóa theo một số cách:

Cải thiện khả năng nuốt. Nước khoáng có gas có khả năng cải thiện khả năng nuốt không những ở người già mà cả người trẻ tuổi. Theo các nghiên cứu so sánh các loại nước ảnh hưởng như thế nào đến khả năng nuốt, nước khoáng có gas có ảnh hưởng tích cực nhất khi chúng có khả năng kích thích các tế bào thần kinh cảm giác đáp ứng cho việc nuốt. Đồng thời, nhiệt độ thấp (lạnh) và áp lực của khí carbon dioxide nén cũng mang lại hiệu quả.

Làm tăng cảm giác no. Theo các nghiên cứu, nước khoáng có gas giúp làm tăng cảm giác đầy bụng sau bữa ăn hơn so với nước lọc, bằng cách ngăn thức ăn bị tiêu hóa nhanh hơn.

Làm giảm tình trạng táo bón. Một số người bị táo bón có thể sử dụng nước khoáng có gas để làm giảm tình trạng này. Đồng thời, nước khoáng có gas cũng có thể cải thiện các triệu chứng tiêu hóa, tình trạng viêm dạy dày hay có khả năng làm rỗng túi mật.

Ảnh hưởng đến hệ xương khớp?

Nhiều người tin rằng việc sử dụng nước khoáng có gas không tốt một chút nào cho xương vì chúng có chứa acid. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học thì acid trong nước khoáng có gas không phải là nguyên nhân để đổ lỗi.

Theo các nghiên cứu, các loại nước ngọt có gas là thức uống duy nhất có khả năng làm giảm mất độ xương. Các loại nước khoáng có gas đều không tìm thấy ảnh hưởng tiêu cực này. Không giống như nước khoáng có gas, nước ngọt có gas không chỉ chứa đường mà còn chứa nhiều photpho. Đây là một trong những yếu tố được tin rằng gây nên tình trạng làm giảm mật độ xương khi làm mất tính cân bằng của canxi và photpho trong xương.

Ngược lại, theo những nghiên cứu trên động vật còn chứng minh rằng nước khoáng có gas có khả năng cải thiện sức khỏe của xương.

Ảnh hưởng lên hệ tim mạch?

Các nghiên cứu cho thấy rằng nước khoáng có gas có thể cải thiện sức khỏe của hệ tim mạch mặc dù các bằng chứng mới chỉ ở mức rất hạn chế.

Theo các nghiên cứu, việc sử dụng nước khoáng có gas giàu Natri có khả năng làm giảm mức LDL (cholesterol xấu), giảm các yếu tố gây quá trình viêm, giảm lượng đường trong máu và có thể làm tăng mức HDL (cholesterol tốt). Tuy nhiên, vẫn cần nhiều nghiên cứu để có thể tìm hiểu rõ về điề này.

Không có bằng chứng nào hiện tại nói rằng nước khoáng có gas gây hại cho sức khỏe. Ngược lại, chúng còn có thể giúp bạn cải thiện hệ tiêu hóa bằng cách giúp tăng khả năng nuốt hay giảm táo bón. Chúng cũng không chứa calo và tạo cảm giác sủi bọt, gây kích thích cho người sử dụng. Do vậy, không có lý do gì để bạn từ bỏ nước khoáng có gas nếu bạn thích thưởng thức nó cả.

Phòng khám chuyên khoa Dinh dưỡng VIAM

Theo Healthline

Chế độ dinh dưỡng cho người bị bệnh gút

Trong cuộc sống hiện đại hiên nay, bệnh Gút (Goute) là bệnh rất thường gặp. Bệnh gây viêm các khớp nhỡ nhỏ, hay gặp nhất là khớp bàn ngón chân trái, nếu không theo dõi và điều trị kịp thời, bệnh gây nhiều biến chứng nguy hiểm. Nguyên nhân của bệnh gút là gì? Tại sao nam giới hay bị bệnh gút hơn nữ giới? Nên ăn gì và nên kiêng ăn gì thì tốt cho bệnh gút? Đây là các thông tin rất cần thiết giúp chúng ta phòng tránh được căn bệnh này!

1. Bệnh gút là gì?

Bệnh gút là do lắng đọng các tinh thể muối urat hoặc tinh thể acid uric gây viêm các khớp, thường gặp ở nam giới, tuổi từ 40 trở lên. Bệnh thường có những đợt cấp kịch phát, tái phát nhiều lần rồi trở thành mạn tính. Các nguyên nhân gây tăng acid uric máu và bệnh gút bao gồm: Các nguyên nhân làm giảm bài tiết acid uric (bệnh thận, một số thuốc…), các nguyên nhân làm tăng sản xuất acid uric

(chủ yếu thông qua khẩu phần ăn) và các yếu tố khác liên quan như gia đình, di truyền, tuổi, giới…

2. Tại sao nam giới bị bệnh gút nhiều hơn?

Các nghiên cứu đều cho thấy nhân purin trong thực phẩm ăn vào là nguyên nhân hàng đầu gây tăng acid uric. Các purin thực phẩm khác nhau gây tăng acid uric khác nhau. Bên cạnh các thức ăn có nhân purin, uống rượu bia cũng có vai trò quan trong làm tăng acid uric máu và cơn gout cấp. Uống rượu bia gây tăng lactat máu làm giảm bài xuất acid uric qua thận dẫn đến tăng acid uric máu và cơn gút cấp. Nguy cơ mắc gút tăng lên theo mức độ uống rượu bia, trong đó uống bia có nguy cơ cao hơn rượu. Nam giới uống nhiều rượu bia nên nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với nữ giới.

3. Chế độ dinh dưỡng trong điều trị bệnh gút

3.1. Hạn chế ăn các thực phẩm có nhiều nhân purin

Người bệnh tăng acid uric máu hoặc bị bệnh gút cần lựa chọn thực phẩm ở nhóm I hoặc nhóm II, không nên sử dụng thực phẩm ở nhóm III theo bảng dưới đây.

Bảng 1. Hàm lượng purin trong 100g thực phẩm

3. 2. Hạn chế các nước uống có khả năng gây tăng acid uric máu và các cơn gút cấp như rượu, bia, chè, cafe. Nên uống các nước có tính kiềm như nước khoáng bicarnonat.

3.3. Thực đơn lâu dài cho người bệnh gút

  • Như chế độ ăn thông thường nhưng hạn chế đạm.
  • Cơ bản là lựa chọn thực phẩm ít nhân purin (thực phẩm nhóm I, II- bảng trên). Nếu ăn thịt nên luộc rồi bỏ nước, không nên ăn các loại nước dùng thịt, cá, xương hầm.
  • Hạn chế sử dụng rượu, bia, cà phê, nước chè.
  • Ăn nhiều rau xanh, các loại quả không chua.
  • Uống đủ nước hàng ngày, đặc biệt là nước khoáng kiềm.

 

TS.BS. Đoàn Huy Cường- Khoa Dinh dưỡng

10 điều cần biết về chế độ ăn cho bệnh nhân bệnh thận mạn tính - lọc máu chu kỳ

Chế độ dinh dưỡng luôn đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị bất kỳ loại bệnh nào. Đối với bệnh nhân mắc bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối lọc máu chu kỳ cũng nên có chế độ ăn thích hợp.

Thực phẩm thường được phân thành các nhóm tùy vào thành phần chất dinh dưỡng có nhiều nhất trong thực phẩm đó. Chúng ta thường biết đến với bốn nhóm thực phẩm chính đó là: nhóm chất bột đường, nhóm chất đạm, nhóm chất béo, nhóm cung cấp Vitamin và khoáng chất. Trong đó có 3 nhóm thực phẩm cung cấp năng lượng (được tính bằng Kilocalo, viết tắt Kcal) cho mọi hoạt động sống của con người gồm chất bột đường, chất đạm, chất béo. Bên cạnh đó có các chất không sinh năng lượng như: khoáng chất, vitamin, nước và chất xơ.

Để xây dựng chế độ ăn hợp lý cần tuân theo những nguyên tắc sau: (1) Ăn giảm đạm; (2) Đủ năng lượng; (3) Lipid: chiếm 15-20% năng lượng; (4) Giảm muối, giảm phốt pho, tăng canxi; (5) Lượng nước đưa vào phù hợp; (6) Cung cấp đủ các vitamin: nhóm B, E.

BSCKI. Nguyễn Thị Thúy - Khoa Lọc máu Bệnh viện TWQĐ 108 đã đưa ra một số lời khuyên về chế độ dinh dưỡng dành cho bệnh nhân mắc bệnh thận mạn – lọc máu chu kỳ như sau:

  1. Ăn giảm đạm: Đạm có vai trò trong xây dựng và tái tạo cơ thể; là thành phần chính của các men, kháng thể, nội tiết tố, dịch nội môi, vitamin…; sinh năng lượng. Tuy nhiên bệnh nhân suy thận nên thận không đào thải được các sản phẩm do chuyển hóa đạm sinh ra như ure, acid uric, do đó cần ăn giảm đạm.
  1. Giảm đạm phụ thuộc vào số lần lọc máu/tuần. Bệnh nhân chạy thận 1 lần/tuần, số lượng đạm là 1g/kg cân nặng khô/ngày. Bệnh nhân chạy thận 2 lần/tuần, số lượng đạm là 1,2 g/kg cân nặng khô/ngày. Bệnh nhân chạy thận 3 lần/tuần, số lượng đạm là 1,4g/kg cân nặng khô/ngày.
  2. Ưu tiên các thực phẩm giàu đạm có giá trị sinh học cao từ nguồn động vật (thịt, cá, trứng, sữa,…). Hạn chế các thực phẩm giàu đạm có nguồn gốc thực vật (đậu, đỗ, vừng, lạc). Tỉ lệ đạm động vật ≥ 60%. Nên ăn các loại ngũ cốc có hàm lượng đạm thấp như: khoai củ (khoai sọ, khoai lang, sắn,…), các sản phẩm chế biến từ khoai củ (miến dong, bột sắn). Nên ăn gạo, mỳ dưới 200g/ngày. Nên ăn các loại rau củ có hàm lượng đạm thấp như bầu, bí, mướp, dưa chuột, cải trắng, cải cúc, cải bắp, su su. Hạn chế ăn các loại rau củ có hàm lượng đạm cao: rau muống, rau ngót, rau giền, giá đỗ, rau đay, mồng tơi, cải xanh.
  1. Đủ năng lượng: Vì ăn giảm đạm do đó cần tăng cường nhóm tinh bột, đường  và chất béo để tránh suy dinh dưỡng. Tổng mức năng lượng phụ thuộc vào chiều cao theo công thức: 30-35 (kcal) x chiều cao (m) x chiều cao (m) x 21 (kcal).
  2.  Chất béo: Tỷ lệ 15-25% tổng năng lượng trong đo 1/3 là chất béo no (mỡ động vật), 1/3 là acid béo không no một nối đôi (dầu thực vật), 1/3 là acid béo no nhiều nối đôi (cá hồi).
  3. Giảm muối, giảm phốt pho, tăng can xi
  1. Ăn nhạt, ăn tối đa 3g muối/ngày, tương đương 15ml nước mắm.
  2. Tránh ăn/ uống các thực phẩm chứa muối (dưa muối, cà muối, thịt cá muối,…; các thực phẩm chế biến sẵn như: giò, chả, thịt hun khói, thịt hộp, xúc xích…)
  3. Không dùng các gia vị chứa muối (nước mắm, gia vị, mì chính, muối) trong chế biến thức ăn.
  4. Hạn chế các thực phẩm giàu phốt pho: lục phủ ngũ tạng động vật, sô cô la, ca cao,…
  5. Rất hạn chế các thức ăn chứa nhiều Kali: cam, chuối, quả bơ, hạt họ đậu, dâu, nho khô, sô cô la…
  6.  Nên ăn các thực phẩm giàu can xi: sữa, cá con, cua
  1. Lượng nước đưa vào vừa phải
  1. Hạn chế nước uống (tùy tình trạng nước tiểu): Lượng nước uống trong ngày = lượng nước tiểu 24h + 300 -500 ml (mất qua mồ hôi, hơi thở) + lượng dịch mất bất thường (sốt, nôn, ỉa chảy). Lượng nước uống bao gồm tính cả lượng dịch truyền, nước uống thuốc, uống canh, uống sữa
  2.  Bổ sung vitamin: vitamin có nhiều trong rau, củ, quả.

 

Hình ảnh minh họa

 

BSCKI. Nguyễn Thị Thúy – Khoa Lọc máu (A14)
Mai Hằng – Truyền thông Bệnh viện TWQĐ 108